Việt Nam có cần đường sắt cao tốc không?
Đứng trước tình
trạng ùn tắc và tai nạn giao thông càng ngày càng trở nên trầm trọng
(theo những số liệu thống kê của cục cảnh sát giao thông đường sắt
đường bộ: mỗi tháng có khoảng 1000 người chết tương ứng với các khoản
chi phí thiệt hại về người khoảng 20 đến 30 tỷ, sau 10 năm chi phí này
sẽ là khoảng 2,4 đến 3,6 ngàn tỷ đồng, chưa tính đến các thiệt hại khác
về vật chất...) thì vấn đề quy hoạch và phát triển hệ thống giao thông
công cộng bao gồm cả trong khu vực một thành phố đến mạng lưới liên
tỉnh mà đặc biệt là đường sắt là vô cùng cần thiết.
Từ lâu, đã có ý
kiến đề xuất quy hoạch, xây dựng hệ thống đường giao thông (đường sắt,
đường bộ) bằng cầu cạn trên cao và bằng đường hầm trong các thành phố
lớn (như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh...). Tuy nhiên, các ý kiến này đã khó
đạt được sự đồng thuận của nhiều người với các lý do khác nhau, nhưng
chủ yếu vẫn là kinh phí đầu tư lớn... và đến bây giờ chúng ta không
khỏi giật mình ngỡ ngàng trước sự ùn tắc và tai nạn giao thông đang gây
thiệt hại lớn cho xã hội hàng năm và bài toán này cho tới nay vẫn chưa
có lời giải đáp.
Sự phát triển
đường sắt cao tốc ở nhiều quốc gia trên Thế giới được giải thích bằng
nguyên nhân chính đó là: Vận tải đường sắt có nhiều ưu điểm hơn vì nó
đảm bảo an toàn, không phụ thuộc nhiều vào thời tiết, tiện lợi, bảo vệ
môi trường, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội...
Do vậy, việc quy hoạch, xây dựng và phát triển mạng lưới đường sắt cao
tốc ở Việt Nam để góp phần giải quyết bài toán giao thông là cần thiết,
tuy nhiên cần phải có chính sách và sự lựa chọn đúng đắn, nếu không
muốn vướng mắc những sai lầm cũ.

Đường sắt cao tốc ở Đài Loan
Đâu là giải pháp?
Trước đây, một vài
chuyên gia có đề cập đến giải pháp cải tạo tuyến đường (khổ rộng
1000mm) hiện tại để tạo thành đường sắt có khổ rộng hơn (1435mm) cho
tàu cao tốc. Tuy nhiên, việc tận dụng lại tuyến đường sắt cũ sẽ vấp
phải một số vấn đề rất phức tạp trong thi công (đắp cạp lại nền đường,
làm mới cầu cống, đào núi, mở hầm, làm đường tạm, dừng chạy tàu…),
nhưng phức tạp nhất là vấn đề giải phóng mặt bằng, đền bù tài sản trên
đất cho dân cư ở các vùng bám dọc theo đường sắt. Hơn nữa, nếu chỉ đề
cập đến việc làm đường sắt khổ rộng hơn bằng việc lắp tà vẹt đường lồng
để đặt ray thứ 3 trong khi vẫn giữ nguyên các chỉ tiêu kỹ thuật cũ, thì
đó chỉ là vấn đề thay đổi trục bánh. Điều này không giải quyết được gì
mà còn gây ra sự lãng phí và tốn kém rất lớn, trong khi vẫn không thể
tổ chức chạy tàu nhanh trên tuyến mới cải tạo, bởi vẫn tồn tại hàng
loạt đường ngang…
Các báo cáo của
các đơn vị tư vấn và ý kiến của các chuyên gia công trình giao thông
đều khẳng định rằng cần xây dựng tuyến 1435mm mới, trong khi vẫn tiếp
tục sử dụng tuyến cũ để chạy tàu hàng và tàu khách địa phương. Tuyến cũ
khổ 1000mm sẽ được nối ray liên thông với mạng đường sắt thấp tốc ở các
nước Đông Nam Á. Giải pháp xây dựng tuyến mới 1435mm (đi song song với
tuyến cũ 1067mm) đã được Nhật Bản áp dụng ngay từ năm 1964 khi mà nền
kinh tế lúc đó còn thấp và bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh. Nhiều
chuyên gia Nhật khẳng định rằng nhờ có tuyến đường sắt cao tốc đó mà nó
đã góp phần làm nên đất nước Nhật ngày nay. Áp dụng chính giải pháp XD
tuyến mới, hiện Trung quốc cũng đang thi công xây dựng gần 6.000km
đường sắt riêng biệt cho tàu cao tốc, trong khi họ vẫn tiếp tục sử dụng
đường cũ khổ 1435mm để chạy tàu thường.
Các chuyên gia tư
vấn cho rằng, đối với tuyến đường sắt khổ 1435mm làm mới tại Việt Nam,
cần ưu tiên việc sử dụng cầu cạn và thiết kế theo tiêu chuẩn đường sắt
cao tốc chuyên chỉ chở khách. Lý do này có thể được giải thích đơn giản
rằng công trình giao thông đường sắt được xây dựng cho tương lai dài
lâu. Việc xây dựng cầu cạn hoặc đường hầm vẫn đảm bảo môi trường, không
ngăn trở sinh hoạt của dân cư địa phương, cho phép các đoàn tàu vào khu
vực trung tâm thành phố, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phục vụ nhu
cầu đi lại của người dân.

Khu đất gần Ga Hà Nội cần được XD làm quảng trường cho Ga,
nhưng nay được quy hoạch làm nhà cao tầng
Tuy nhiên, khi
đường sắt cao tốc được vận hành sẽ ảnh hưởng nhất định tới số lượng
hành khách của các loại phương tiện khác như ô tô, máy bay. Đây là điều
lo ngại hoàn toàn có căn cứ cho các nhà kinh doanh vận tải hàng không,
cũng như các nhà sản xuất xe hơi; chính vì vậy mà họ có thể lên tiếng
phản đối dự án đường sắt cao tốc với lý do hao tiền tốn của. Để giải
quyết vấn đề này, các chuyên gia cho rằng cần có cơ chế thoả đáng tạo
điều kiện cho các nhà sản xuất xe hơi được tham gia đấu thầu, phối hợp
cung cấp nguyên vật liệu và một phần các trang thiết bị để sản xuất các
loại toa xe nhằm đáp ứng yêu cầu chung. Khi đường sắt cao tốc phát
triển, nhu cầu đi lại thông thương được kích cầu thì cũng kéo theo các
phương thức giao thông công cộng khác phát triển, như vậy khái niệm
cạnh tranh chỉ là một khía cạnh rất nhỏ của bài toán phát triển kinh tế.
Từ lâu chúng
ta đã có cơ chế kêu gọi đầu tư hạ tầng giao thông, song có rất ít nhà
đầu tư tư nhân đón nhận, bởi họ vẫn còn sợ rủi ro. Rõ ràng cơ chế này
đang cần phải điều chỉnh làm sao để các nhà DN tư nhân tham gia, bởi
việc đầu tư vào lĩnh vực này rất tốn kém, trong khi thời gian hoàn vốn
khá lâu. Hơn thế nữa, khi góp vốn đầu tư còn có không ít rủi ro mà khó
có gì bảo đảm. Việc tính hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư là điều kiện
bắt buộc và cần phải tập trung được tất cả các yếu tố đầu vào. Chúng ta
không thể triển khai công việc một cách duy ý chí. Tới nay, trong cách
tính giá trị hiện tại thuần, thời gian hoạt động của dự án được các
chuyên gia đưa ra rất khác nhau: Nếu xác định thời gian ngắn cỡ 10 - 30
năm thì dự án không thể nào hoàn vốn cho dù có sử dụng “kịch bản” giá
vé cao hơn cả vé máy bay. Nếu xác định dự án có thời gian dài 70 năm
thì lại quá xa vời đối với nhà đầu tư. Để có thể giải quyết vấn đề này,
chúng ta cần phải xác định đây là dự án quốc gia có quy mô rất lớn và
đương nhiên có thời gian hoạt động 70-100 năm (chưa kể là vĩnh cửu); dự
án này cần được phân tách ra làm nhiều dự án thành phần bao gồm: Hệ
thống cầu hầm, hệ thống kiến trúc tầng trên, hệ thống điện, hệ thống
thông tin tín hiệu điều khiển đoàn tàu, hệ thống trang thiết bị phục vụ
tại nhà ga... Tuỳ theo mỗi dự án thành phần mà kêu gọi nhà đầu tư góp
vốn hoặc sử dụng vốn vay ODA, ngân sách... với cách tính theo thời gian
hoàn vốn khác nhau, tương ứng với tỷ lệ ăn chia của giá vé cho từng
hạng mục, hoặc kinh doanh các dịch vụ khác trong khu vực đường sắt...
trong đó dành quyền ưu tiên cho nhà đầu tư tư nhân và các tập đoàn kinh
tế. Cần có cơ chế thoả đáng để dành cho các tập đoàn và nhà đầu tư
được sử dụng quỹ đất ở khu vực ga và hai bên đường sắt để xây dựng sân
ga và các đường vào khu vực ga, xây dựng đường bộ 2 bên, làm công trình
phục vụ công cộng cũng như xây dựng chung cư cao tầng phục vụ tái định
cư.