1. ỨNG DỤNG VÀO SẢN XUẤT
Với đề tài tự nghiên cứu được hội đồng VKTQS, BQP nghiệm thu và triển khai đầu tiên cho nhà máy Thiết bị điện Đông Anh đã hoàn thành các nội dung KHKT&CN cơ bản:
- Về vật liệu: Đã hình thành quy trình để chế tạo được thép có thành phần các bon, silic rất thấp tăng độ bền ăn mòn trong môi trường Zn nóng chảy phục vụ cho việc chế tạo nồi lò và đã mở ra một hướng vật liệu cho các cơ sở sản xuất thép từ 1991 đến nay. Để tăng khả năng bền ăn mòn của thép, các loại vật liệu lớp phủ bề mặt thép bền trong môi trường kẽm nóng chảy cũng như vật liệu hàn bảo dưỡng, sửa chữa và các vật liệu phụ trợ cũng đã được hoàn thiện và ứng dụng đồng thời nhằm đảm bảo sự ổn định của thiết bị nhúng kẽm từ những năm 1991 đến nay.
- Về công nghệ: Đã thiết kế toàn bộ hệ thống dây chuyền công nghệ, kết cấu lò đốt bằng các loại nhiên liệu than, điện, dầu và khí cũng như các thiết bị phụ trợ để điều khiển nhiệt độ, điều tốc lưu lượng dòng khí, nước phù hợp với các yêu cầu khác nhau của cơ cơ sở nhận chuyển giao công nghệ. Các thông số công nghệ về thành phần, nhiệt độ, thời gian của các công đoạn công nghệ cũng như cân bằng nhiệt và vật chất của công nghệ đã được xác định tối ưu đáp ứng yêu câu vận hành ổn định và hiệu quả kinh tế kỹ thuật. Đã xây dựng tài liệu công nghệ cũng như xuất bản và tái bản sách KHKTCN: “Sổ tay kỹ thuật mạ, nhúng, phun”, NXB KH&KT năm 1992 và 2000 phục vụ cho việc đào tạo công nhân và cán bộ chuyên môn kỹ thuật các cấp.
- Đã chuyển giao trọn gói công nghệ cũng như chế tạo vật liệu nồi lò và các thiết bị cho nhiều cơ sở chế tạo kết cấu thép của các Bộ, Thành phố, Tỉnh, Công ty, nhà máy, xí nghiệp trên các vùng Bắc-Trung- Nam, cụ thể:
+ 1991: Nhà Máy chế tạo thiết bị điện Đông Anh, Hà Nội, (Bộ Năng lượng)
+ 1992: Xí nghiệp phụ kiện lưới điện, CTXLĐ 2, Thủ Đức, (Bộ Năng lượng)
Nhà Máy chế tạo thiết bị điện Đông Anh, (Bộ Năng lượng)
Công ty Xây lắp điện 3, Vinh, Nghệ An, (Bộ Năng lượng)
Nhà máy Cơ khí Đại mỗ, Hà Nội, (Bộ Xây dựng)
LH các XNXL (LILAMA) Ninh Bình, (Bộ Xây dựng)
XNLH Z 175, Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh, (Bộ Quốc Phòng)
XNCKVLXD, Hải Phòng, (Thành phố Hải phòng)
NX Sơn và Đóng tàu Sông Cấm, Hải Phòng, (Bộ giao thông vận tải)
Z 127, Thái Nguyên, TCCNQP,(Bộ Quốc phòng)
NXCK, Long An, (Tỉnh Long An)
+ 1994: XN Bê tông ly tâm và XD điện, CTXL 4, Đông Anh, (Bộ Năng lượng)
+ 1995: XNXL Điện An Nhơn, Sở Điện lực Bình Định (Tỉnh Bình Định)
CTXL Điện 3, Phú Tài, Bình Định, (Bộ Năng lượng)
+ 1996: CTXL Điện 3, Đà Nẵng, (Bộ Năng lượng)
XN PK lưới điện, CTXL Điện 2, Thủ Đức, TP HCM, (Bộ Năng lượng)
+ 1997: CTTM Thái Bình, (Tỉnh Thái Bình)
+ 1999: CT Điện Gia Lai, (Tỉnh Gia Lai)
+ 2001: CT Đầu tư XD&PT Nông thôn, Hà Tây, (Tỉnh Hà Tây)
+ 2002: CT CKXD COMA, Bắc Ninh, (Bộ Công nghiệp)
+ 2004: CTTNHH Việt Á, hưng Yên, (Bộ Công nghiêp)
Với những dây chuyền công nghệ đã chuyển giao, các cơ sở sản xuất đã hoàn thành xuất sắc việc chế tạo để lắp đặt các đường dây tải điện 500 kV Bắc Nam và các đường 500 kV tiếp theo cũng như các đường dây tải điện cho các vùng với các điện áp thấp hơn. Ngoài các kết cấu cho ngành điện các kết cấu thép cho các ngành xây dựng, giao thông vận tải cũng như hàng tiêu dùng, tấm lợp, v.v…cũng được ứng dụng nhúng kẽm nóng chảy chống ăn mòn kim loại. Như vậy nhúng kẽm nóng đã tồn tại, phát triển như một ngành công nghiệp mang lại công ăn, việc làm cho hàng vạn người cũng như đem lại hiệu quả kinh tế cho các đơn vị sản xuất. Nhiều đơn vị đã đạt sản lượng đến 10.000t/năm và đem lại lợi nhuận hàng chục tỷ đồng.
2. NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN
- Kết quả ứng dụng khá rộng rải của công trình “Vật liệu và công nghệ nhúng kẽm” từ 1991 đến nay như là một ngành sản xuất tạo việc làm và sản phẩm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhờ những thuận lợi:
+ Yêu cầu khách quan về chất lượng cao của các công trình kết cấu thép đòi hỏi các cơ sở phải ứng dụng kết quả của tiến bộ kỹ thuật,
+ Khả năng đáp ứng tốt của công nghệ tự nghiên cứu trong nước phù hợp với thực tiễn Việt Nam về vốn đầu tư nhỏ, thích hợp về mặt bằng của chủ đầu tư, trình độ kỹ thuật, công nghệ cũng như thiết bị, vật tư, vật liệu hiện có tại các vùng và điều kiện kinh tế của từng cơ sở sản xuất.
- Tốc độ thực hiện từng công trình thường rất chậm hoặc hiệu quả kinh doanh chưa giữ được ở mức độ cao thường xuyên là do những khó khăn:
+ Ý tưởng và chủ trương đầu tư của các cơ sở thường dễ thay đổi, nhiều khi không dựa vào thực tiễn về tài chính và cương lĩnh sản phẩm hoặc khả năng tổ chức sản xuất và thị trường vùng, khu vực mà đôi khi còn theo thời vụ hoặc phong trào.
+ Tài chính thường không được chuẩn bị đủ, kip nên có nơi không thanh toán hết cho cơ sở chuyển giao công nghệ.
+ Nguồn sản phẩm không ổn định và phụ thuộc vào năng lực vận động của từng đơn vị.
3. KIẾN NGHỊ
- Việc đầu tư cho nghiên cứu cải tiến và phát tiển công nghệ chưa được chú ý đúng mức để đáp ứng đòi hỏi cao hơn về chất lượng của công nghệ và thiết bị. Vốn tự có của một cơ sở nghiên cứu cũng như của các xí nghiệp thường quá nhỏ để đầu tư nghiên cứu cải tiến công nghệ cũng như hiện đại hóa thiết bị. Các cơ sở sản xuất thường chỉ muốn nhận chuyển giao công nghệ ăn chắc và không muốn cung cấp tài chính cho nghiên cứu. Vì vậy khi có đòi hỏi cấp bách về thay đổi chất lượng sản phẩm hoặc thiết bị thì các xí nghiệp thường hướng nhập ngoại với giá trị cao gấp hàng trăm, nghìn lần công nghệ nhận chuyển giao trong nước. Ví dụ để chuyển nhúng kẽm sang nhúng hợp kim kẽm nhôm có tính chất chống ăn mòn kim loại và chống nóng tốt hơn còn cần phải nghiên cứu thay đổi thành phần, vật liệu, chất phụ trợ, thiết bị tương thích,…nhưng không thể mở đề tài từ ngân sách nhà nước và từ công nghiệp. Vì vậy đề nghị nhà nước nên chú ý đến tính hiệu quả của công nghệ được giải thưởng để hỗ trợ cho các đề tài, dự án đề xuất nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như thiết bị của công nghệ đã được ứng dụng vào thực tiễn.
- Các xí nghiệp và cơ sở tổ chức sản xuất đã được hưởng lợi từ các công nghệ chuyển giao có hiệu quả, thường vẫn đánh giá rất thấp giá trị của “công nghệ nội địa” so với nhập ngoại, và giá trị chuyển giao công nghệ chỉ được trả 1 lần chiếm khoảng 2% giá trị công trình, vì vậy đề nghị nhà nước nên có chính sách quy định khuyến khích và bắt buột các cơ sở phải áp dụng công nghệ trong nước khi đã được công nhận, đánh giá có hiệu quả (ví dụ qua đánh giá giải thưởng VIFOTEC) đồng thời quy định và kiểm soát việc hỗ trợ thường xuyên nhà khoa học từ lợi ích thu được của công nghệ đã nhận chuyển giao để cho các nhà khoa học có điều kiện tốt hơn, gắn bó hơn với sự nghiệp nghiên cứu cải tiên công nghệ phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Điều đó cũng sẽ tạo cơ sở cho các nhà khoa học và nhà kinh doanh gắn kết với nhau và có trách nhiệm thực sự với nhau.
4. KẾT LUẬN
- Vật liệu và công nghệ nhúng kẽm nóng chảy đã đáp ứng sự đánh giá của giải thưởng VIFOTEC và nhu cầu của thực tiễn sản xuất đất nước và đảm bảo được hiệu quả kinh tế xã hội,
- Với công nghệ đã được áp dụng vẫn còn đòi hỏi cần cải tiến và nâng cao hơn nữa chất lượng công nghệ, vật liệu, thiết bị để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao hơn của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Nhà nước nên có những chính sách và thể chế khuyến khích việc ứng dụng công nghệ nội địa và tạo cơ chế gắn trách nhiệm và quyền lợi của các nhà nghiên cứu KHCN và các chủ doanh nghiệp.